(HQ Online)- Một buổi sáng tháng 4 lịch sử, tôi được tiếp chuyện với một con người lịch sử - vị anh hùng đã góp nên những chiến công thầm lặng cho ngày Đại thắng 1975.
Ông là Đại tá - Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Tàu, người mà lịch sử vẫn gọi với cái tên thân thuộc - Tư Cang, nguyên cụm trưởng cụm tình báo anh hùng H.63, cụm tình báo được ra đời để phục vụ điệp viên nổi tiếng – nhà báo Phạm Xuân Ẩn (Hai Trung).
10 năm uống… cà phê Givral
Anh hùng tình báo Tư Cang năm nay đã 85 tuổi nhưng vẫn toát lên thần thái của một điệp viên từng “vào sinh ra tử” trước họng súng quân thù ở nội thành Sài Gòn thuở nào. Trong câu chuyện kể lại thời kỳ oanh liệt ấy, ông Tư Cang vẫn pha trò bằng những câu nói khôi hài, dí dỏm. Có lẽ bởi đức tính này mà vị Anh hùng tình báo đã luôn lạc quan cùng đồng đội vượt qua biết bao khó khăn hiểm nghèo để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Câu chuyện bắt đầu từ thời điểm hòa bình lập lại năm 1954, từ quê hương Bà Rịa - Vũng Tàu, anh lính Việt Minh - Phó phòng quân báo tỉnh Nguyễn Văn Tàu tập kết ra Bắc và đổi tên là Trần Văn Quang rồi được thăng chức Trung đội trưởng. Chính trong thời gian này, Trung đội trưởng Quang đã tự học hỏi để trang bị cho mình những kỹ năng cho nghiệp vụ tình báo sau này: Khả năng bắn súng chính xác 2 tay, biết chụp ảnh, lái xe, viết văn... Riêng khả năng bắn súng chính xác bằng cả tay trái của anh thì nổi tiếng toàn quân, không ai dám đọ tài.
Trở lại miền Nam đến tháng 4-1962, tại chiến khu Dương Minh Châu, ông Tư Cang chính thức tiếp nhận cụm H.63- cụm tình báo phục vụ hoạt động của điệp viên Phạm Xuân Ẩn, biệt danh Hai Trung, sau này là Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Lúc này ông có nhiệm vụ chỉ huy chống càn, dạy bộ đội về chiến thuật, kỹ thuật quân sự tại căn cứ Bến Đình; chỉ huy các giao liên ở trong ấp chiến lược đi về Sài Gòn, nhận thông tin của cơ sở mình trong nội thành gửi ra.
Đến đầu 1965, khi Mỹ đổ quân ào ạt vào miền Nam thì nhiệm vụ của cụm trưởng tình báo như ông Tư Cang là phải sâu sát hơn với các điệp viên trong khu vực nội thành. Do vậy, đến năm 1966, ông vào thành để trực tiếp đưa những chỉ đạo từ cấp trên đến với lưới tình báo của ông Phạm Xuân Ẩn được thông suốt. Thời gian hoạt động cách mạng này (1966-1969) của ông Tư Cang chính là giai đoạn đã đi cùng với những năm tháng ác liệt nhất trên chiến trường miền Nam.
Trong thời gian này, ông Tư Cang là người trực tiếp gặp điệp viên Phạm Xuân Ẩn để nhận thông tin tình báo và truyền đạt nghị quyết, chỉ thị của cấp trên. Có một điều đặc biệt trong hoạt động của cặp đôi tình báo này là những lần gặp mặt giữa hai người đều diễn ra tại quán cà phê Givral (góc đường Nguyễn Huệ - Lê Lợi) ngày nay, ngay sát Nhà hát lớn thành phố (Nghị viện chế độ cũ) và gần Dinh Độc Lập. “Dù công khai liên lạc nhưng điều quan trọng là tôi và Ẩn vẫn giữ được nguyên tắc “ngắt quãng” trong hoạt động tình báo, không để đối phương xâu chuỗi các sự kiện để nghi ngờ. Trong mắt kẻ địch, tôi xuất hiện bên cạnh Ẩn với vai trò là một ông bạn thân cùng sở thích chơi chim, sưu tập chó nhà ở Bến Cát”, ông Tư Cang nói.
Những giờ phút vào sinh ra tử
Trong hoàn cảnh vùng ven luôn bị vây ráp, trong thành bị kiểm tra gắt gao, dưới sự chỉ đạo của ông, cụm H.63 vẫn luôn vượt qua nhiều khó khăn, nguy hiểm để bất cứ lúc nào cũng có thể thông tuyến từ trong thành ra căn cứ và ngược lại. Với ông, mọi thành viên trong mỗi lưới tình báo đều phải tuân thủ một quan điểm sống còn, đó là coi tài liệu như sinh mệnh của mình. Ngoài ra, để tồn tại được lâu dài trong lòng địch mà không bị lộ, người chiến sĩ tình báo còn phải có những đức tính như dũng cảm, mưu trí, đa năng, bình tĩnh xử lý mọi tình huống...
Tư Cang cho biết: “Nếu như tình báo các nước thường cất giữ một viên đạn cuối cùng để phòng khi sa vào tay giặc thì trong thời gian hoạt động trong thành, tôi đã không mang gì cả, bởi điều kiện hoạt động tình báo của tôi lúc đó không cho phép mang vũ khí bên mình. Nhưng vì luôn nghĩ đến trọng trách được giao nên tôi đã xác định tâm thế sẵn sàng chấp nhận tất cả khi xảy ra bất trắc để giữ bí mật cho đồng đội, để mạng lưới điệp viên tiếp tục hoạt động”.
Nói đến đây, ông Tư Cang bỗng nhớ lại nhiều kỷ niệm mà tưởng chừng ông đã kề cận cái chết. Trong đó, có một kỷ niệm không thể quên là vào đêm mùng 1 Tết, tức thời điểm ngay trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968: Từ cứ về cách Sài Gòn 50km thì chiếc xe của ông bị chết máy - giờ chiến đấu đã cận kề mà ông phải dắt bộ. Đang chưa biết làm sao thì bỗng đâu 2 tên lính Mỹ bước tới, súng chĩa thẳng vào Tư Cang. Một tên hỏi, bằng giọng giễu cợt: “Vixi?” (V.C - Việt Cộng phải không?) và hỏi: “Đi đâu?”. Tuy vậy, ông Tư Cang vẫn bình tĩnh đáp trả, cũng bằng giọng đùa nghịch: “Ô, nô, nô Vixi!” (Ồ, không phải Việt Cộng), rồi ông tiếp tục tỏ ra hồn nhiên, nói với chúng bằng tiếng Anh: “Hello! Happy New Year!”. Sau đó chúng hỏi ông vài câu nữa mới không nghi ngờ gì và cho đi. Nhờ vậy mà ông về thành an toàn để cùng đồng đội tham gia trận chiến.
Rồi nhiều lần khác nữa mà ông và Phạm Xuân Ẩn đã tính đến phương án “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Đó là lần nhận được chỉ thị của cấp trên phải chuyển một lá thư cho viên chức cao cấp ở một đại sứ quán. Theo ông Tư Cang thì đây là điệp viên hai mang của cơ quan tình báo nước bạn đã bị mất liên lạc và người này sau chiến tranh vẫn giữ vị trí cao trong cơ quan ngoại giao nước mình. “Trước khi đến đại sứ quán nhân một buổi tiệc đứng để đưa thư, Phạm Xuân Ẩn và tôi đã phải tính toán cả tháng trời phương án thoát thân cho mình và gia đình. Chúng tôi đã tính là nếu bị lộ thì tử thủ để bảo toàn mạng lưới và tin tức. Cũng may là mọi việc đều thông suốt”, ông Tư Cang bồi hồi nhớ lại.
…Với người vợ thân yêu, dù đã trở lại miền Nam hoạt động, rồi vào thành, ở rất gần nhau nhưng ông Tư Cang vẫn không thể thường xuyên gặp mặt bà. Ông kể, suốt những năm ông hoạt động ở nội thành Sài Gòn, vợ chồng ông có đôi lần gặp nhau nhưng cũng chỉ là trong im lặng ở hai đầu ghế đá trong Sở Thú (Thảo Cầm Viên). Để rồi, cuộc chia ly chỉ thực sự đoàn tụ khi vợ chồng Anh hùng tình báo Tư Cang được gặp lại sau ngày miền Nam giải phóng.
Giờ đây, cuộc sống đã thanh bình gần 40 năm, mỗi khi ngồi kể lại chuyện quá khứ, một thời chia ly của hai ông bà vì cách mạng, bà vẫn khóc. Qua lời giải thích của ông, đó là những giọt nước mắt của hạnh phúc, của tình cảm thiêng liêng nhất mà người phụ nữ đã hy sinh, chịu đựng suốt một thời gian dài của tuổi thanh xuân, để dành cho chồng, cho ngày toàn thắng.
Quang Duy