|
|
Trong hơn 100 năm tồn tại, nhà tù Côn Đảo là minh chứng cho tội ác của kẻ thù trước lịch sử. Đây là nơi giam cầm, tra tấn dã man những người yêu nước, những người kháng chiến, nơi từng được mệnh danh là “địa ngục trần gian”. Nhưng Côn Đảo cũng là “trường học” lớn nhất, nơi rèn luyện ý trí kiên trung, tinh thần cách mạng của người cộng sản.
|
|
Cuộc vượt ngục bất thành
Câu chuyện của ông Nguyễn Văn Hậu, hiện là Phó Trưởng ban liên lạc Cựu tù chính trị Côn Đảo TP. Hà Nội đã cho tôi biết thế nào là tinh thần quật cường của người chiến sỹ cách mạng. Ở tuổi 24, ông đã trực tiếp chứng kiến đồng đội bị tra tấn tàn bạo, dã man và thảm khốc nhất ở nơi được mệnh danh là “địa ngục trần gian”.
“Tôi bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng từ những ngày đầu khởi nghĩa. Và đúng 1 tuần sau khi đánh phá sân bay Bạch Mai tiêu diệt khoảng 25 máy bay địch (18-1-1950), tôi bị bắt ngày 26-1-1950 tại làng Phương Liệt. Chúng đã dùng đủ mọi đòn roi nhằm bắt tôi phải khai ra các đồng đội và tổ chức cách mạng của mình. Tất cả âm mưu đó không thành. Cảm thấy bất lực với những đòn tra tấn không hiệu quả, chúng xử tôi tù chung thân khổ sai rồi đầy đi Côn Đảo”, ông kể.
Giữa câu chuyện kể về những tháng ngày gian khổ ấy, ông hồi tưởng lại: Tại Côn Đảo ông và đồng đội đã gây một sự kiện trở thành dấu ấn đậm nét trong lịch sử tồn tại của nhà tù này về sau người ta vẫn thường nhắc đến như một minh chứng cho ý chí quật cường của các chiến sỹ cộng sản. Đó là sự kiện vượt ngục của 200 anh em tù nhân.
Ông nhớ lại: Ngày 12-12-1952, sau một thời gian dài chuẩn bị kế hoạch về tổ chức, 200 anh em chúng tôi đã tấn công 1 trung đội lính da màu, cướp tàu trốn ra biển. Nhưng không may là kế hoạch bị bại lộ, khi chúng tôi mới đi chưa được 10km thì bị tấn công, 81 đồng chí đã hy sinh, những người còn lại đều bị bắt và bị tra tấn một cách dã man. Sau đó chúng tăng cường canh phòng và kiểm tra nghiêm ngặt nên chúng tôi cũng không có nhiều cơ hội cho những lần vượt ngục tiếp theo.
 |
| Ông Nguyễn Văn Hậu |
Hai lần vượt ngục
Từng 2 lần bị giam cầm trong nhà tù Côn Đảo, trong kí ức của ông Trần Minh Trung (tức Lê Bình), nguyên Phó Cục trưởng Cục Bảo hiểm xã hội, Tổng Công đoàn Việt Nam, là 11 năm sống trong “địa ngục trần gian”.
Côn Đảo không chỉ là những trận đòn tra tấn hiểm ác về thể xác của kẻ thù mà đau đớn hơn cả là sự tra tấn về tinh thần, tư tưởng. Ông kể lại: kẻ địch âm mưu tiêu diệt tư tưởng cộng sản bằng cách, sau một ngày lao động khổ sai, chúng bắt anh em tù đọc những tài liệu chống cộng sản, chào cờ ngụy, hô khẩu hiệu phản động, xem những đoạn băng do chúng dựng lên nhằm bôi nhọ, làm hoen ố danh dự người cộng sản. Ai không khuất phục, chúng sẽ dùng đủ mọi cách hành hạ về thể xác sau đó đưa vào trại số 1 hay còn gọi là trại Cộng sản.
3 năm sống trong trại Cộng sản, thiếu không khí, thiếu ánh sáng, đối mặt với căn bệnh mà có lẽ không một trại giam nào trên thế giới có, đó là bệnh “chân đen” (căn bệnh mà chỉ cần nhìn vào dấu hiệu đen từ bàn chân lên đến cổ chân là biết rằng cái chết đã đến). Ông kể với một giọng bình thản, tưởng như nó là điều quá đỗi bình thường với một người chiến sỹ cộng sản.
 |
| Ông Trần Minh Trung (tức Lê Bình) |
Đã khi nào ông và đồng đội nghĩ đến chuyện vượt ngục chưa? Tôi cắt ngang dòng suy tư của ông bằng một câu hỏi.
Ông nói: Hầu hết các anh em tù, không ai không nghĩ đến chuyện vượt ngục, nhưng với một nhà tù được xây dựng kiên cố giữa biển khơi nên tính đến chuyện vượt ngục phải có sự chuẩn bị thật cẩn thận, tỉ mỉ.
Ông nhớ lại lần vượt ngục thứ nhất: Ngày đó, năm 1961 ngụy quyền Ngô Đình Diệm tiến hành ráo riết việc xây dựng một sân bay ở Côn Đảo. Để thực hiện được ý đồ, chúng đưa lực lượng từ các trại sang Cỏ Ống để làm khổ sai phục dịch công việc thi công. Nhận thấy đây là một cơ hội tốt để có thể tổ chức vượt đảo, nên ông cùng với một số anh em tù được sự phân công của lãnh đạo trại, đã bàn với nhau kế hoạch vượt đảo.
“Lúc này là tháng 10-1961, gần đến mùa gió chướng hàng năm ở Côn Đảo. Hàng ngày đi làm khổ sai, chúng tôi nhận thấy cứ vài tuần lễ thì tàu hải quân của Ngụy lại chở xăng dầu ra rồi chở những chiếc thùng hết về. Chúng tôi hội ý và quyết định phương án lấy thùng phuy để làm bè. Công tác chuẩn bị được bí mật thực hiện. Nhưng, một tình huống xảy ra, đó là tàu của ngụy sau khi ra đảo tiếp tế đã mang luôn số thùng chúng tôi dự định làm bè về. Kế hoạch tưởng như không thành”.
Ông hào hứng kể tiếp: Giữa lúc chưa biết xử trí thế nào, may thay, một đồng đội nhớ ra trong kho công chính Cỏ Ống có một số thùng có thể thay thế. Vậy là kế hoạch nhanh chóng thay đổi. Tuy nhiên, một trở ngại nữa là đường vận chuyển 4 chiếc thùng phuy sẽ dài hơn và phức tạp hơn. Điểm xuất phát từ chân đồi tre, nằm phía cực bắc của đảo khiến cho lộ trình cõng những chiếc thùng 200 lít trên lưng trong đêm tối sẽ phải kéo dài thêm 20 km nữa.
Tuy nhiên, cuộc vượt ngục đã không thành, chỉ vài tiếng sau chúng đã phát hiện ra sự mất tích của chúng tôi. Trước khi bị chúng bắt lại, chúng tôi lập tức trao đổi cách đối phó. Một là vứt hết đồ đạc xuống biển để phi tang. Hai là, phải giữ vững lời khai cá nhân tự phát không có ai xúi giục, giúp đỡ vật chất, phương tiện. Những ngày sau đó, chúng tôi phải chịu những trận đòn điều tra, khai thác.
Tháng 9 -1962, địch đưa 500 tù chính trị câu lưu (tức là tù nhân chưa có án) về các nhà tù trong đất liền, nhốt phân tán ở các nhà lao Chí Hòa, Phú lợi, Tân Hiệp… Lúc này, phong trào chống học tố cộng, chống chào cờ ngụy, chống hô khẩu hiệu phản động do anh em tù Côn Đảo phát động đang dâng cao. Địch đàn áp dã man, một số tù nhân bị đưa trở lại Côn Đảo, một số bị chúng đẩy đi làm lao công chiến trường, phục dịch cho chiến dịch “Sóng tình thương” nhằm đánh phá căn cứ cách mạng của ta ở Cà Mau, ngăn chặn sự tiếp tế vũ khí của miền Bắc vào miền Nam. Nhưng, đây lại là cơ hội tốt để anh em tù tìm cách tự giải thoát trở về khu giải phóng.
Đêm mùng 3-6-1963, trận mưa đầu mùa đã đến. Số anh em tù được phổ biến kế hoạch tự giải thoát đã trong tư thế sẵn sàng hành động. Từng người một cởi trần, mặc quần đùi trườn ra. Ra khỏi 3 vòng rào thép gai, một bãi chông dài khoảng 200m mới đến các lều gác của lính thủy đánh bộ ngụy và hàng rào tre “ấp chiến lược”. Cuộc vượt ngục diễn ra đến 5 giờ sáng thì phải ngừng, vì mưa đã tạnh, trời đã sáng, lính canh bắt đầu tuần tra. Khi nghe có nhiều loạt súng nổ đuổi theo và tiếng loa phóng thanh ở thị trấn Năm Căn văng vẳng thì bước chân “thần tốc” của anh em tù vượt ngục đã đi được một quãng xa- ông kể.
Số anh em tù bị kẹt lại không ra được đêm 3-6-1963 bị đưa về Trại Phú Lợi, sau đó đưa trở lại Côn Đảo. Nhiều người đã phải tiếp tục ở đó cho đến ngày giải phóng miền Nam 30-4-1975, tức là 12 năm sau mới được trở về.
Ngọc Linh (ghi)