(HQ Online)- Hai chính sách lớn, có tầm ảnh hưởng và thời gian thực hiện kéo dài từ nay đến cuối năm là Nghị quyết 13 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường và chủ trương hạ lãi suất xuống 10%/năm của Ngân hàng Nhà nước.
Phóng viên Báo Hải quan có cuộc trao đổi với Chủ tịch Hiệp hội DN nhỏ và vừa Việt Nam Cao Sỹ Kiêm về hai chính sách này.
Ông có nhận định như thế nào về những giải pháp nhằm ổn định kinh tế vĩ mô của Chính phủ nói chung và hai chính sách này nói riêng?
Những biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô mà Chính phủ đã đưa ra trong Nghị quyết 11 về bản chất là sử dụng biện pháp giảm tổng cầu để chống lạm phát. Nhiều quốc gia khi chống lạm phát thường sử dụng hai biện pháp đồng thời là giảm tổng cầu và giảm cung ứng tiền. Trong khi đó, Việt Nam lại sử dụng biện pháp giảm tổng cầu là chủ yếu.
Đến nay, chúng ta đã nhìn thấy tác động tích cực từ sự lựa chọn này. Đó là lạm phát đã được kiểm soát khi tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chững lại, tháng sau thấp hơn tháng trước, quý sau thấp hơn quý trước. Tuy nhiên, khi giảm tổng cầu thì nhu cầu nền kinh tế bị giảm xuống, điều đó có nghĩa, DN bán hàng chậm hơn, tồn kho tăng thêm, luân chuyển hàng hóa vật tư chậm lại và DN bị thiếu nguồn tiền để trang trải các nghĩa vụ tài chính, trong đó có việc trả nợ cho ngân hàng. Cũng vì thế, khả năng sản xuất kinh doanh bị giảm sút mạnh, thất nghiệp tăng thêm, tăng trưởng kinh tế chững lại.
|
Bất cứ chính sách nào cũng có tính hai mặt, buộc phải đánh đổi và chọn lựa khả năng nhiều tích cực hơn.

|
Tôi cho rằng, đó là cái giá phải trả trong quá trình chống lạm phát. Bởi vì bất cứ chính sách nào cũng có tính hai mặt đối lập, buộc phải đánh đổi và chọn lựa khả năng nhiều tích cực hơn.
Để hỗ trợ thị trường và hoạt động sản xuất, Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 13. Tôi cho rằng đây là một bước đi hoàn toàn phù hợp với diễn biến của nền kinh tế.
Vậy với chủ trương hạ lãi suất xuống còn 10%/năm vào cuối năm 2012 của Ngân hàng Nhà nước, theo ông, có thể rút ngắn hơn nữa thời gian bởi số lượng DN phá sản đang ngày càng tăng?
Để đưa ra được mốc thời điểm hạ lãi suất này, Thống đốc Nguyễn Văn Bình cũng đã dựa vào dự đoán lạm phát năm 2012 giảm xuống dưới 10%. Đây là tiền đề cơ bản để hạ lãi suất huy động xuống 10%/năm. Bên cạnh đó, thanh khoản của hệ thống ngân hàng cũng đang được đánh giá khá dồi dào với lãi suất liên ngân hàng ổn định.
Tuy nhiên, lãi suất ngân hàng cao là một tồn tại từ nhiều năm nay, nếu sốt ruột rút ngắn hơn nữa thời gian hạ lãi suất sẽ khiến hệ thống ngân hàng vốn vừa mới hồi phục phải cố gắng quá sức, nguy cơ rủi ro là rất lớn.
Điều này đồng nghĩa là trong thời gian 6 tháng tới, chúng ta đã nắm trước được con số DN sẽ phá sản?
Thực trạng của DN hiện nay không phải là DN không tiếp cận được nguồn vốn của ngân hàng, mà là không có kế hoạch kinh doanh thuyết phục để ngân hàng có thể cho vay. Nói cách khác, vấn đề không phải là “tiếp cận vốn” mà là khả năng hấp thụ vốn của DN rất kém.
Các báo cáo gần đây cho thấy, riêng 2011 hơn 53 nghìn DN giải thể và ngừng hoạt động, con số này trong 4 tháng đầu năm nay là 17,7 nghìn. Hai con số này cộng lại chiếm hơn 40% tổng số DN giải thể và ngừng hoạt động từ trước đến nay. Cứ theo đà này, trung bình một tháng sẽ có từ 4 đến 4,5 nghìn DN giải thể, như vậy đến cuối năm nay con số DN giải thể, ngừng hoạt động sẽ xấp xỉ năm ngoái, dự báo khoảng 50 nghìn DN.
Tuy nhiên đây là một thực tế cần phải chấp nhận. Những DN nào yếu từ nội bộ, không thể vực dậy được thì nên để quy luật thị trường điều tiết.
Tuy nhiên, lãi suất cũng chỉ là một cấu phần trong chi phí DN, việc giảm lãi suất sẽ góp phần giảm giá thành, giá bán. Nhưng dư địa của chính sách tiền tệ đã hạn hẹp, dù có nỗ lực hơn cũng chỉ đến thế. Do đó muốn ổn định kinh tế chắc chắn rất cần sự nỗ lực của các lĩnh vực khác. Ông có đồng quan điểm như vậy?
Vấn đề bây giờ không đơn thuần chỉ sử dụng công cụ lãi suất mà cần nhanh chóng kích cầu trong nền kinh tế. Để kích cầu, khu vực đầu tiên chính là đầu tư công, bởi đây là đầu mối kích hoạt các hoạt động sản xuất, kinh doanh và giải quyết lao động, việc làm.
Năm 2009, Chính phủ cũng từng đưa ra gói kích cầu trị giá đến 160 nghìn tỷ bao gồm nhiều cấu phần. Tuy nhiên, phân tích lại hiệu quả của gói cứu trợ này, nhiều bài học đã được đưa ra. Theo ông, để Nghị quyết 13 đạt được mục tiêu cao nhất, việc triển khai cần được thực hiện như thế nào?
Trong gói hỗ trợ năm 2009 các chính sách đều được gộp vào dưới cái tên “kích cầu”, trong khi tác động thực tế của nó chưa chắc chắn đã nhằm làm tăng tổng cầu trong nền kinh tế. Ví dụ như chính sách hỗ trợ lãi suất 4% sẽ là kích cầu nếu DN vay vốn đó để đầu tư. Nhưng nếu DN đó vay vốn để đảo nợ thì sẽ không còn gọi là kích cầu được nữa, mặc dù nó vẫn có thể có tác dụng tích cực nào đó.
Gói hỗ trợ thị trường và hoạt động sản xuất lần này chỉ nên duy trì trong ngắn hạn nhằm tránh sự mất cân đối hàng- tiền, vi phạm quy luật lưu thông tiền tệ, dẫn đến lạm phát. Để đảm bảo gói giải pháp phát huy được tác dụng, Chính phủ cần có sự giám sát chặt chẽ sự phân bổ nguồn lực của gói giải pháp, tạo điều kiện cho nguồn lực được phân bổ đúng đối tượng, tránh tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh và bất bình đẳng giữa các chủ thể trong nền kinh tế, đặc biệt là DN.
Cuối cùng, gói giải pháp nào dù là kích cầu hay hỗ trợ nền kinh tế chỉ mang tính chất hỗ trợ tạm thời nền kinh tế khi có khủng hoảng. Khi nền kinh tế đã vượt qua được giai đoạn khó khăn, Chính phủ cần điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng phát triển bền vững nhằm tránh sự bùng phát của những tàn dư sau khủng hoảng.
Xin cảm ơn ông!
Huyền Bảo (thực hiện)