(HQ Online)- Sau một thời gian triển khai Luật thuế Giá trị gia tăng (GTGT) số 13/2008/QH12 (có hiệu lực từ ngày 1-1-2009) đã bộc lộ một số vướng mắc, bất cập cần phải sửa đổi… Đó là quy định về đối tượng không chịu thuế GTGT, thời hạn nộp thuế GTGT và khoảng cách các mức thuế…
Thu hẹp đối tượng - tăng nợ xấu
Cục Hải quan Quảng Ninh cho biết, theo quy định tại Luật Thuế GTGT số 07/2003/QH11 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2004) thì máy móc, thiết bị phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ và vật tư xây dựng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được NK để tạo tài sản cố định của DN thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT. Tuy nhiên, theo Luật Thuế GTGT hiện hành thì nội dung này không còn nữa.
Đưa ra ví dụ phân tích, Hải quan Quảng Ninh cho biết, tại Chi cục Hải quan Cái Lân đã phát sinh trường hợp của Công ty cổ phần Vinh Cơ Evergreen Việt Nam NK máy móc thiết bị tạo tài sản cố định phục vụ cho dây chuyền sản xuất thức ăn gia súc trị giá 91 triệu USD. Công ty đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư từ năm 2007, dự kiến NK máy móc, thiết bị từ năm 2009 đến 2010. Do vậy, khi lập dự toán đầu tư DN đã không tính khoản thuế GTGT đối với lượng hàng hoá NK vào tổng mức đầu tư của dự án. Vì vậy, từ ngày 1-1-2009 đến nay, do thay đổi chính sách thuế nên số lượng máy móc, thiết bị DN NK phải chịu thuế GTGT. Mặc dù chính sách gia hạn thuế GTGT lên 180 ngày và cùng với nỗ lực của DN trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế, nhưng đến nay Công ty vẫn nợ thuế quá hạn cưỡng chế 14,8 tỷ đồng và tạm thời chưa đi vào hoạt động.
Quy định tại Điều 5 Luật Thuế GTGT đã thu hẹp đối tượng không chịu thuế. Như vậy, việc thu hẹp đối tượng không chịu thuế GTGT đã tăng thêm một khoản nợ thuế xấu cho đơn vị.
Phân rõ khoảng cách mức thuế
Cục Hải quan Đồng Tháp và An Giang phản ánh, Luật Thuế GTGT quy định một số mặt hàng thuộc đối tượng không chịu thuế, tuy nhiên, có một số mặt hàng quy định mức thuế suất 5% nhưng lại không hướng dẫn tiêu chuẩn phân biệt.
Đơn cử mức thuế suất 5% đối với sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản chưa qua chế biến, thực phẩm tươi sống, lâm sản chưa qua chế biến. Tuy nhiên, Khoản 1 Điều 5 Luật Thuế GTGT quy định các mặt hàng thuộc đối tượng không chịu thuế là các sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu NK.
Thực tế, việc xác định để phân biệt và đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế ở đây chưa rõ ràng, đặc biệt là các tiêu chí về hàng nông sản thực phẩm, thuỷ hải sản qua sơ chế hay chế biến, con giống, cây trồng, trứng giống hay thực phẩm… gây khó khăn cho cơ quan Hải quan trong quá trình thực hiện. Vì vậy, các đơn vị Hải quan này kiến nghị làm rõ nội dung, phạm vi khái niệm “chịu thuế” và “không chịu thuế” trong sửa đổi Luật Thuế GTGT.
Việc áp dụng hai mức thuế suất 5% và 10% đã phần nào thu hẹp dần nhóm thuế suất 5%. Tuy nhiên, vẫn chưa hợp lý đối với một số hàng hoá dịch vụ và chưa áp dụng thống nhất mức thuế suất gây thiếu bình đẳng trong nghĩa vụ nộp thuế (ví dụ: thiết bị dụng cụ y tế, sản phẩm hoá dược chịu mức thuế suất 5%, các thiết bị massage, thiết bị tập thể thao, hoá mỹ phẩm chịu mức thuế suất 10%. Trong thực tế, việc xác định được phạm vi sử dụng của một số hàng hoá lại tùy thuộc vào người sử dụng và đặc biệt việc xác định này không thể thực hiện được ngay trong quá trình làm thủ tục hải quan). Vì vậy, để đảm bảo công bằng về nghĩa vụ thuế và đơn giản trong việc tính thuế, sửa đổi Luật thuế GTGT cần giảm bớt nhóm hàng hoá, dịch vụ chịu thuế suất 5%.
Bổ sung thời hạn nộp thuế
Theo phản ánh của Cục Hải quan Hải Phòng, Luật Thuế GTGT chưa quy định rõ về thời hạn nộp thuế GTGT nên dẫn tới một số vướng mắc.
Cụ thể, việc nộp thuế GTGT đối với hàng hoá là nguyên liệu NK sản xuất hàng XK quá thời hạn 275 ngày kể từ ngày NK chưa đưa vào sản xuất. Theo quy định tại Thông tư 194/2010/TT-BTC thì: “Nếu người nộp thuế không thực hiện XK hàng hoá trong thời hạn nộp thuế: Người nộp thuế phải kê khai nộp thuế NK và thuế GTGT (nếu có) kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế. Cơ quan Hải quan kiểm tra, thu thuế NK, thuế GTGT theo quy định. Người nộp thuế được hoàn lại số tiền thuế đã nộp theo quy định khi thực tế XK sản phẩm sản xuất từ hàng hoá NK đã nộp thuế”.
Tuy nhiên vướng mắc ở chỗ, các văn bản hướng dẫn khác cũng không quy định rõ ràng là DN phải kê khai theo mẫu nào? Cách thức kê khai như thế nào trong trường hợp này? Cơ quan Hải quan có phải ra thêm văn bản khác xác nhận việc kê khai thuế của DN hay không? Quy định nộp thuế đối với nguyên liệu NK để sản xuất hàng XK nhưng chưa đưa vào sản xuất đã quá 275 ngày kể từ ngày NK DN phải nộp thuế NK vào tài khoản tạm thu, thuế GTGT vào tài khoản chuyên thu… Điều này gây khó khăn cho DN, bởi sau khi XK hết sản phẩm tương ứng với lượng nguyên liệu NK, DN phải làm thủ tục hoàn thuế tại 2 cơ quan chức năng: Chi cục Hải quan (hoàn thuế NK) và cơ quan Thuế địa phương (hoàn thuế GTGT).
Vì vậy, để giảm thiểu thủ tục hành chính, cần xem xét sửa đổi, bổ sung đối với trường hợp này, DN sẽ nộp thuế NK và thuế GTGT vào tài khoản tạm thu của cơ quan Hải quan. Cơ quan Hải quan sẽ kiểm tra, thu thuế NK, thuế GTGT theo quy định và hoàn thuế NK, thuế GTGT theo quy định cho người nộp thuế sau khi thực tế XK sản phẩm từ hàng hoá NK đã nộp thuế.
Một vướng mắc nữa về thời hạn nộp thuế, Cục Hải quan Quảng Ninh nêu ra về tính thuế hàng NK sản xuất XK chuyển sang tiêu thụ nội địa theo hướng dẫn tại Công văn 6498/TCHQ-TXNK ngày 22-12-2011 thì thời điểm tính thuế là thời điểm đăng ký tờ khai NK, thời điểm tính thuế GTGT là thời điểm chuyển đổi mục đích sử dụng. Tuy nhiên, với quy định này, DN có thể lợi dụng khai báo loại hình nhập sản xuất XK sau đó chuyển tiêu thụ nội địa nhằm tránh nộp thuế GTGT theo quy định tại khâu NK.
Vì vậy, với những bất cập nêu trên, Cục Hải quan Quảng Ninh và Hải Phòng cho rằng, cần bổ sung thêm một điều quy định về thời hạn nộp thuế GTGT trong Luật Thuế GTGT.
T.Tr