(HQ Online)- Phân tích những quy định hiện hành về giám sát hải quan đối với hàng hoá XNK cho thấy, các quy định mới đưa ra những nguyên tắc chung mà chưa cụ thể. Những quy định đối với các bên liên quan cũng chưa đầy đủ nên đã gây khó khăn cho cơ quan Hải quan triển khai trong thực tế.
Vì vậy, Ban soạn thảo sửa đổi Luật Hải quan cho rằng, Luật Hải quan sửa đổi sẽ quy định chung về nguyên tắc, đối tượng, biện pháp giám sát; quy định cụ thể về giám sát đối với từng chế độ quản lý khác nhau để phù hợp với yêu cầu quản lý.
Phân tích những bất cập của quy định hiện hành, Ban soạn thảo sửa đổi Luật Hải quan cho biết, theo quy định tại Điều 4 Luật Hải quan hiện hành thì giám sát hải quan là biện pháp nghiệp vụ của cơ quan Hải quan nhằm đảm bảo nguyên trạng hàng hoá, phương tiện vận tải thuộc đối tượng quản lý của hải quan. Điều 26 Luật Hải quan, Điều 13 Nghị định 154/2005/NĐ-CP đã quy định về đối tượng giám sát, thời gian giám sát, phương thức giám sát, trách nhiệm hải quan, chủ hàng, người điều khiển phương tiện.
Tuy nhiên, các loại hình hàng hoá XNK khác nhau, các loại hình cửa khẩu khác nhau (đường bộ, đường biển, đường sắt…) cần áp dụng các chế độ giám sát khác nhau. Quy định tại Luật Hải quan và Nghị định 154 chưa đưa ra những nguyên tắc chung và chưa cụ thể nên khó thực hiện trong thực tế.
Mặt khác, cơ quan Hải quan không thể trực tiếp giám sát toàn bộ 100% hàng hoá trong thời gian 24 giờ/ngày do khối lượng hàng hoá XNK được lưu giữ và ra vào các khu cảng, cửa khẩu ngày một lớn (ví dụ, cảng Cát Lái trung bình có khoảng 200 container xuất/ngày). Các DN có liên quan như DN kinh doanh cảng, kho bãi, DN xếp dỡ… tham gia vào quá trình vận chuyển, lưu giữ, giao nhận hàng hoá nhưng Luật Hải quan và Nghị định 154 đều không quy định trách nhiệm của các đơn vị này trong việc bảo quản nguyên trạng hàng hoá.
Trong khi đó, tại Phụ lục chuyên đề A Công ước Kyoto quy định trách nhiệm với người vận chuyển phải chuyên chở hàng hoá trực tiếp theo tuyến đường đã được quy định, tới một cửa khẩu đã được quy định hay một địa điểm khác do Hải quan chỉ định. Trong quá trình này không được thay đổi tính chất hay bao bì của hàng hoá, cơ quan Hải quan sẽ đưa ra những yêu cầu có liên quan đến việc xây dựng, quản lý và sắp xếp cho việc lưu kho hàng hoá, kiểm tra của cơ quan Hải quan.
Từ những phân tích trên, Ban soạn thảo sửa đổi Luật Hải quan cho rằng, trên cơ sở chuẩn hoá quy trình, thủ tục, các quy trình thủ tục khác nhau đòi hỏi có sự giám sát khác nhau, theo đó, Luật sửa đổi Luật Hải quan quy định về giám sát sẽ sửa đổi theo hướng: Quy định chung về nguyên tắc, đối tượng, biện pháp giám sát; quy định cụ thể về giám sát đối với từng chế độ quản lý khác nhau để phù hợp với yêu cầu quản lý.
Bên cạnh đó, thay đổi cách thức giám sát theo hướng quy định trách nhiệm của DN kinh doanh kho bãi trong việc quản lý, bảo quản hàng hoá, kiểm tra giám sát hàng hoá đưa ra, đưa vào khu vực cảng, kho bãi, đảm bảo tuân thủ các thủ tục hải quan theo quy định.
Cùng với đó, quy định trách nhiệm của cơ quan Hải quan thực hiện giám sát theo nguyên tắc quản lý rủi ro và kiểm tra thực hiện các biện pháp giám sát thuộc trách nhiệm của các tổ chức nói trên. Quy trách nhiệm của các cơ quan liên quan như Cảng vụ, Cảng hàng không, Hải quan quản lý các khu công nghiệp, DN kinh doanh cảng trong việc chia sẻ thông tin và có cơ chế phối hợp với cơ quan Hải quan để giám sát hàng hoá trong địa bàn hoạt động hải quan.
Các vấn đề trên đang tiếp tục thảo luận và lấy ý kiến.
Thu Trang