(HQ Online)- Là nước có mức sản xuất và XK chè lớn trên thế giới, song giá chè XK của Việt Nam luôn lép vế so với giá trung bình thế giới. Ngành chè Việt Nam ngày càng phải đối mặt với nhiều thách thức.
Năng lực thấp
Theo thống kê của Hiệp hội Chè Việt Nam, hiện cả nước có 136 nghìn ha chè, năng suất bình quân đạt 7 tấn/ha. Sản lượng XK năm 2010 là 130 tấn và được xếp vào hàng thứ 5 về sản xuất và XK chè trên thế giới.
|
|
Năm 2010, sản lượng toàn ngành đạt 175 nghìn tấn. Dự kiến, với năng lực sản xuất hiện tại, năm 2020, sản lượng này sẽ tăng 43%, đạt 250 nghìn tấn. Trong đó, XK chiếm 73% tổng sản lượng, đạt 182 nghìn tấn.
|
|
Tuy nhiên, điều đáng lo ngại của ngành chè là năng suất lao động thấp, diện tích sản xuất manh mún, nhỏ lẻ khiến thu nhập của người dân trồng chè chưa được đảm bảo, khó có cơ hội tái đầu tư vào cây chè.
Thêm nữa, việc thiếu nguyên liệu, thiếu vốn để cải tiến máy móc, công nghệ theo chuẩn quốc tế cũng như thiếu chế tài quản lý về chất lượng càng khiến sản phẩm chè Việt dễ bị tác động theo nhu cầu của thị trường thứ cấp tại các cửa khẩu. Điều này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng lực sản xuất của các nhà máy chế biến cũng như thương hiệu chè Việt.
Xuất phát từ những thực trạng trên, ông Đoàn Anh Tuân- Chủ tịch Hiệp hội Chè Việt Nam khẳng định: Mặc dù vấn đề không mới nhưng hiện tại và trong thời gian tới, XK chè Việt đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Đó là việc thị trường XK ngày càng đòi hỏi chất lượng cao hơn; sự cạnh tranh gay gắt về giá… Thực tế là hiện nay, tuy được xếp vào hàng thứ 5 về sản xuất và XK trên thế giới, song giá XK bình quân của chè Việt lại chỉ bằng 60% giá bình quân thế giới.
Nhiều nguyên nhân
Theo ông Đoàn Anh Tuân, có nhiều nguyên nhân tạo nên bức tranh ảm đạm cho thị trường XK chè Việt, trong đó, yếu tố đầu tiên chính là chất lượng.
Phần lớn diện tích chè hiện nay trên cả nước đều sử dụng giống chè trung du lá nhỏ, năng suất, chất lượng thấp và đang bị thoái hóa. Người nông dân vẫn tư duy theo lối bóc màu, không chú trọng đầu tư thâm canh.
Đặc biệt, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tùy tiện, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm là điều cản trở chè Việt đi xa, nhất là trong bối cảnh một số thị trường lớn, trong đó có EU, ngày càng siết chặt vấn đề này đối với hàng nông sản Việt.
Giai đoạn từ năm 2000 đến nay, chính quyền nhiều địa phương đã cho phép các DN xây dựng nhà máy chế biến chè mà không cần điều kiện ràng buộc. Kết quả là có địa phương, cùng một xã có tới 11 nhà máy chế biến. Nhiều nhà máy thiếu nguyên liệu, mối quan hệ giữa nông dân trồng chè và nhà máy lại hết sức lỏng lẻo gây ra tình trạng “mua tranh, bán cướp”. Đây cũng là điều khiến cho chất lượng chè Việt ngày càng giảm sút.
Ông Đoàn Anh Tuân phân tích thêm: Nguyên do quan trọng nữa là chè Việt XK ra thế giới chủ yếu dưới dạng chè rời. Loại chè có bao gói, mẫu mã mang thương hiệu còn rất hạn chế nên giá bán thấp, chưa có thị trường ổn định và bền vững. Thêm vào đó, việc quá nhiều công ty tham gia XK với tính chất kinh doanh thuần túy, sẵn sàng chào bán loại chè chất lượng thấp, giá rẻ đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của cả ngành chè Việt Nam.
Tồn tại lâu đời, song cho đến nay, ngành chè Việt vẫn chưa xây dựng được Sàn đấu giá cho mình nên tinh trạng “tranh mua, tranh bán”, “mạnh ai nấy lo” vẫn tiếp diễn, dẫn tới hiện tượng bị ép giá mạnh mẽ, ông Tuân nhấn mạnh.
Cần tổ chức Sàn giao dịch
Thông tin từ Hiệp hội chè Việt Nam cho biết: Năm 2010, sản lượng toàn ngành đạt 175 nghìn tấn. Dự kiến, với năng lực sản xuất hiện tại, năm 2020, sản lượng này sẽ tăng 43%, đạt 250 nghìn tấn. Trong đó, XK chiếm 73% tổng sản lượng, đạt 182 nghìn tấn.
Đơn giá bình quân của chè nội tiêu cũng như XK cũng sẽ tăng từ mức 3,5 USD/kg và 1,45 USK/kg (năm 2010) lên 5 USD/kg và 1,99 USD/kg (năm 2020).
Muốn đạt được mục tiêu trên và dần vượt qua những thách thức, theo ông Đoàn Anh Tuân, quan trọng là chè Việt phải dần tạo dựng được thương hiệu riêng cho mình. Điều này đòi hỏi sự đầu tư cho cả chuỗi giá trị ngành chè trong dài hạn và cần có sự tham gia của các cấp bộ, ngành từ trung ương tới địa phương.
Xây dựng các mô hình nhà máy sản xuất chè sạch như dự án chè SHAN ở Hà Giang do Công ty TNHH Thương mại Hùng Cường tiến hành cũng là một giải pháp hay mà Hiệp hội chè Việt Nam hết sức ủng hộ. Bởi các mô hình này không chỉ đảm bảo sự gắn kết giữa nhà máy và vùng nguyên liệu mà sản phẩm chè còn đạt được chứng chỉ hữu cơ, tạo lòng tin cho thị trường về chất lượng. Đây là hướng đi lâu dài và bền vững cho DN.
Giải pháp hữu hiệu tiếp theo là cần nhanh chóng tổ chức một Sàn giao dịch, tạo tiền đề cho sự ra đời của Trung tâm đấu giá chè sau này. Sàn sẽ có vai trò trung gian, là nơi để các DN giới thiệu và bán sản phẩm một cách minh bạch, công bằng; nơi người sản xuất có thể gặp gỡ tất cả các đối tác, giúp các DN làm ăn chân chính bán được giá cao.
Ông Đoàn Anh Tuân cho biết thêm, hiện nay, Hiệp hội chè Việt Nam đã khởi động việc thành lập Sàn giao dịch, song có lẽ cũng phải 5 năm nữa, việc này mới có thể hoàn thành.
Thanh Nguyễn