(HQ Online) –Thiếu chiến lược tiếp thị toàn cầu lâu dài cho cả ngành thủy sản, việc quảng bá chưa tương xứng với sự phát triển của ngành; hơn 70% sản phẩm XK từ Việt Nam là chế biến thô… khiến Việt Nam đang gặp không ít những thách thức khi XK thủy sản vào thị trường EU.
Những thông tin trên được ông Trương Đình Hòe, Tổng Thư ký Hiệp Hội VASEP Việt Nam đưa ra tại hội thảo "Nâng tầm quan hệ thương mại và đầu tư Việt Nam- EU" được Phòng Thương mại -công nghiệp Việt Nam, chi nhánh TP.HCM, tổ chức vào cuối tuần qua.
Nhiều triển vọng
Theo Hiệp hội VASEP Việt Nam, tổng kim ngạch XK năm 2011 đạt 6,1 tỷ USD. Trong đó, XK tôm đạt 2,4 tỷ USD, XK cá tra đạt 1,8 tỷ USD, XK cá ngừ đạt 379 triệu USD và XK các mặt hàng khác đạt 1,5 tỷ USD. Riêng tổng kim ngạch XK 3 tháng đầu năm 2012 đạt 1,3 tỷ USD, tăng 13% so với cùng kỳ năm 2011.
Sản phẩm tôm Việt Nam đã có mặt trên 91 thị trường thế giới, với 3 thị trường lớn nhất là Mỹ, Nhật và EU, chiếm hơn 65,8% tổng giá trị XK tôm của Việt Nam. Cá tra Việt Nam đã XK đến 130 thị trường thế giới, phần lớn các thị trường duy trì lượng NK ổn định hoặc tăng. Riêng 2 thị trường lớn nhất của các tra là Mỹ và EU chiếm 47,5% giá trị XK cá tra của Việt Nam.
Ông Trương Đình Hòe, Tổng Thư ký Hiệp Hội VASEP Việt Nam, cho biết, từ năm 2007, EU đã vượt qua Nhật Bản để trở thành đối tác NK thủy sản lớn nhất của Việt Nam, với tốc độ phát triển nhanh và ổn định. Năm 2011, EU dẫn đầu với 21,8% thị phần kim ngạch XK thủy sản Việt Nam, đứng trước Hoa Kỳ 19,3% và Nhật Bản 16,4%.
Để đạt được những kết quả trên, theo ông Hòe phân tích, là do Việt Nam có nhiều lợi thế như năng lực chế biến lớn, với công suất cấp đông 7.500MT/ngày. Hiện, Việt Nam đã có 539 nhà máy chế biến đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) quốc gia, 393 nhà máy đạt chứng nhận XK vào EU (năm 1999 chỉ có 17 nhà máy).
Đến nay, Việt Nam đã có 49 nhà máy chế biến có chứng nhận Global G.A.P (45% tổng số các nhà máy cá tra); 103 trại nuôi cá tra đang áp dụng các tiêu chuẩn nuôi an toàn khác; 5 trại nuôi cá tra đang tiếp cận chứng nhận ASC. Bên cạnh đó, ngành nuôi tôm cũng đang quản lý nguồn nguyên liệu thông qua liên kết với HTX nuôi tôm tại những vùng nuôi trọng điểm.
Thêm một lợi thế nữa của Việt Nam, đó là dồi dào nguồn cung cấp từ nuôi trồng. Năm 2011, sản lượng thủy sản nuôi trồng là 2,93 triệu tấn, tăng 7,4% so với năm 2010. Trong đó, sản lượng tôm đạt gần 633 ngàn tấn và cá tra đạt gần 1,2 triệu tấn.
Cần chiến lược dài hơi
Cũng theo ông Trương Đình Hòe, bên cạnh những lợi thế như trên, Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức khi XK thủy sản vào thị trường EU. Và mặc dù đang nằm trong top 5 nhà cung cấp thủy sản lớn nhất thế giới, nhưng đến nay Việt Nam còn thiếu chiến lược tiếp thị toàn cầu lâu dài cho cả ngành thủy sản, việc quảng bá chưa tương xứng với sự phát triển của ngành.
Không những thế, hơn 70% sản phẩm XK từ Việt Nam là chế biến thô, trong đó, đối với cá tra trên 80% là fillet đông lạnh, do đó, sản phẩm của Việt Nam chưa tiếp được phân khúc cao cấp và cho dòng sảm phẩm giá trị gia tăng tại thị trường Châu Âu, thị trường được coi là đầy tiềm năng cho chế biến và ăn liền. Ngay cả mặt hàng tôm, mặt hàng Việt Nam khá thành công tại Nhật Bản cho các sản phẩm cao cấp thì hầu như vẫn chưa tiếp cận sâu vào thị trường EU.
Đồng thời, do thiếu vốn, cũng như thiếu định hướng XK và đầu tư lâu dài nên các DN Việt Nam hiện nay chưa chú trọng đúng mức đến phát triển các mặt hàng giá trị gia tăng.
Ngoài ra, xu hướng của thị trường hiện nay là yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng tăng, tuy nhiên về vấn đề này Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Lý do là các trang trại nuôn tôm còn nhỏ lẻ nên việc thực hiện truy xuất nguồn gốc đối với tôm tốn chi phí khá cao.
Thêm một khó khăn nữa đó là, rào cản phi thuế quan lớn nhất ảnh hưởng đến XK của Việt Nam sang EU liên quan đến việc sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại của EU, chủ yếu là chống bán phá giá, cũng như các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS) và các rào cản kỹ thuật (TBT).Trong đó có những biện pháp rào cản kỹ thuật luôn là những thách thức đối với các DN XK thủy sản Việt Nam.
Và, mặc dù có thuận lợi là EU đã công nhận năng lực của NAFIQAD trong thực hiện lấy mẫy, kiểm tra lô hàng tại cảng, cấp chứng thư, tuy nhiên, các DN Việt Nam phải luôn chạy theo các tiêu chuẩn VSATTP, tiêu chuẩn vùng nuôi ngày càng tăng, phải tăng đầu tư nhiều hơn nữa để đáp ứng các yêu cầy này.
Thy Vũ