Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Vướng mắc ghi nhãn hàng hóa Nhập khẩu

Thông tin đơn vị gửi câu hỏi

  • Nguyễn Tuấn
  • Pháp Vân, Hà Nội

Câu hỏi tư vấn

(24/09/2018 2:04 CH )

  • Chính sách nhập khẩu
  • Vướng mắc ghi nhãn hàng hóa Nhập khẩu
  • CÂU HỎI HẢI QUAN: Vừa qua Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/2017/NĐ-CP ngày 14 tháng 4 năm 2017, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 6 năm 2017, thay thế Nghị định 89/2006/NĐ-CP Về nhãn hàng hóa. Tôi thấy có vướng mắc sau mà khi thực thi Nghị định 89 trước đây còn tồn tại mà Nghị định mới 43 lại không làm rõ và tháo gỡ. Điểm 1 Điều 7: Những nội dung bắt buộc thể hiện trên nhãn hàng hóa phải được ghi bằng tiếng Việt, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này (tên Latin hàng hóa, tên địa chỉ doanh nghiệp nước ngoài) Điểm 3 Điều 7: Hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam mà trên nhãn chưa thể hiện hoặc thể hiện chưa đủ những nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt thì phải có nhãn phụ thể hiện những nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt và giữ nguyên nhãn gốc của hàng hóa. Nội dung ghi bằng tiếng Việt phải tương ứng với nội dung ghi trên nhãn gốc. Điểm 1 Điều 10: Nhãn hàng hóa bắt buộc phải thể hiện các nội dung sau:a) Tên hàng hóa;b) Tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa;c) Xuất xứ hàng hóa;d) Các nội dung khác theo tính chất của mỗi loại hàng hóa được quy định tại Phụ lục I của Nghị định này và văn bản quy phạm pháp luật liên quan. Điểm 4 Điều 8 (Ghi nhãn PHỤ): Nội dung ghi trên nhãn phụ là nội dung dịch nguyên ra tiếng Việt từ các nội dung bắt buộc ghi trên nhãn gốc và bổ sung các nội dung bắt buộc khác còn thiếu theo tính chất của hàng hóa theo quy định tại Nghị định này. Tổ chức, cá nhân ghi nhãn phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của nội dung ghi. Nội dung ghi trên nhãn phụ gồm cả nội dung được ghi bổ sung không làm hiểu sai nội dung trên nhãn gốc và phải phản ánh đúng bản chất và nguồn gốc của hàng hóa. Điểm 4 Điều 9 Hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam mà nhãn gốc không phù hợp với quy định của Nghị định này thì tổ chức, cá nhân nhập khẩu phải ghi nhãn phụ theo quy định tại khoản 3 Điều 7 và các khoản 3, 4 Điều 8 của Nghị định này khi đưa ra lưu thông và phải giữ nguyên nhãn gốc (Không thấy có điều khoản qui định rõ là hàng nhập khẩu phải có nhãn gốc, quy định về hình thức thể hiện và nội dung thể hiện các nội dung bắt buộc theo nghị định này) Như vậy, DN nhập khẩu có thể hiểu hàng hóa nhập khẩu, nếu Nhãn gốc hàng hóa chưa đúng đủ, không phù hợp với quy định của Nghị định này thì tổ chức cá nhân NK bổ sung Nhãn phụ trước khi lưu thông ra thị trường mà không vi phạm về quy định về Nhãn hàng hóa. ( Các điều khoản trên tương tự với quy định tai Điểm 3 Điều 9; Điểm 1 Điều 9; Điểm 3 Điều 10; Điều 11 Nghị định 89) Tuy nhiên theo quy định tại Điểm e, Điểm đ Khoản 5 Điều 14 Nghị định 127/2013/NĐ-CP, hành vi NK hàng hóa vào Việt Nam mà không có nhãn theo quy định, hoặc trên nhãn thể hiện chưa đúng, đủ những nội dung bắt buộc theo quy định của pháp luật (được hiểu là nhãn đầy đủ nội dung hình thức bằng tiếng Việt) bị xử phạt với mức phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 60 triệu đồng và Điểm b Khoản 7 Điều 14 này: b) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 3; Khoản 4; các Điểm a, c, d, đ Khoản 5 Điều này; trừ hàng hóa xuất khẩu.Trong thời hạn quy định tại Khoản 4 Điều 23 của Nghị định này, nếu cơ quan có thẩm quyền cho phép nhập khẩu thì được phép nhập khẩu. Tại Nghị định 45/2016/NĐ-CP sửa đổi bổ sung Nghị định 127/2013/NĐ-CP, mục 11 sửa đổi bổ sung Điều 14: Khoản 7 Điều này : xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa không có "nhãn hàng hóa theo quy định pháp luật" (có thể hiểu là hàng NK không có nhãn hoặc có nhưng thiếu, sai, không có tiếng Việt...?) thì bị xử phạt như sau: các mức tại Điểm a,b,c,d từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng tùy trị giá hàng vi phạm và Khoản 12 Điểm b về áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả cũng là :Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định tại các Khoản 4, 5, 7, 8 và Khoản 9 Điều này; trừ hàng hóa xuất khẩu.Trong thời hạn quy định tại Khoản 2 Điều 22 của Nghị định này, nếu cơ quan có thẩm quyền cho phép nhập khẩu thì được phép nhập khẩu. NHƯ VẬY CÁCH HIỂU TẠI 2 NGHỊ ĐỊNH này là khác nhau. Việc này trong quá trình thực hiện Nghị định 89 trước đây cũng đã vướng mắc, gây khó khăn, thống nhất khi thực hiện nhiệm vụ của Cơ quan Hải quan cũng như DN nhập khẩu. Trước thực tế đó, Cơ quan Hải quan đã có Công văn Số: 6011 / TCHQ – GSQL (V/v ghi nhãn hàng hóa nhập khẩu )gửi Bộ KHCN, BỘ Công thương nêu ra điểm bất nhất trên giữa 02 Nghị định trên và Đề nghị 02 phương án, trong đó Hải quan đề nghị được thực thi PA 1: a.1) Phương án 1: • Đối với lô hàng phải kiểm tra thực tế khi làm thủ tục hải quan, cơ quan hải quan kiểm tra, đối chiếu thực tế hàng hóa theo quy trình thủ tục hải quan hiện hành, không kiểm tra việc dán nhãn trên hàng hóa khi nhập khẩu (bao gồm cả nhãn gốc và nhãn phụ), không xử phạt vi phạm đối với hành vi vi phạm quy định về nhãn hàng hóa, trừ trường hợp cơ quan hải quan phát hiện có dấu hiệu vi phạm hoặc có yêu cầu về bảo vệ sở hữu trí tuệ.Doanh nghiệp chịu trách nhiệm dán nhãn hàng hóa theo quy định tại Nghị định 89 / 2006 / NĐ - CP trước khi đưa ra lưu thông trên thị trường. • Cục Quản lý thị trường (Bộ Công Thương), Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ tăng cường kiểm tra, xử lý các trường hợp doanh nghiệp vi phạm quy định về dán nhãn hàng hóa khi đưa ra lưu thông trên thị trường theo quy định tại Nghị định 89 / 2006 / NĐ - CP . Trả lời công văn này, Bộ KHCN là Cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo và tổ chức thi hành Nghị định 89, đã trả lời và thống nhất ý kiến: Hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam mà trên nhãn chưa thể hiện hoặc thể hiện chưa đủ những nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt thì không vi phạm quy định về ghi nhãn hàng hóa nhưng tổ chức, cá nhân phải bổ sung nhãn phụ bằng tiếng Việt trước khi đưa ra lưu thông (với điều kiện hàng hóa phải có nhãn gốc theo quy định). Và Bộ Tài chính đã có ý kiến về việc này tại Công văn Số: 14397/BTC-TCHQ (V/v xử lý vướng mắc tại Thông tư 128, Thông tư 22 và ghi nhãn hàng hoá) ngày 10 tháng 10 năm 2014: III/ Vướng mắc về ghi nhãn hàng hoá Yêu cầu Cục Hải quan các tỉnh, thành phố thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ tại công văn số 2598/BKHCN-Ttra ngày 22/7/2014 trả lời Tổng cục Hải quan về ghi nhãn hàng hoá nhập khẩu. Theo đó, đối với các lô hàng nhập khẩu thuộc diện phải kiểm tra thực tế, cơ quan hải quan kiểm tra đối chiếu thực tế hàng nhập khẩu (trong đó có việc ghi nhãn gốc của hàng hoá) với nội dung khai của người khai hải quan. Trường hợp nhãn gốc không thể hiện đầy đủ nội dung theo quy định tại Nghị định 89/2006/NĐ-CP, cơ quan hải quan không xử phạt, nhưng chủ hàng hoá nhập khẩu phải chịu trách nhiệm bổ sung nhãn phụ trước khi đưa ra lưu thông trên thị trường. NHƯ VẬY THEO TINH THẦN CHỈ ĐẠO CỦA Bộ TC, Tổng Cục Hải quan, BỘ KHCN thì là Không XỬ PHẠT đối với hàng vi nhập khẩu Hàng hóa mà Nhãn gốc không thể hiện đầy đủ nội dung theo quy định tại Nghị định 89, Doanh nghiệp chủ hàng chịu trách nhiệm bổ sung NHÃN PHỤ trước khi đưa ra lưu thông trên Thị trường. Tuy nhiên, Nghị định 43 mới đã thay thế hoàn toàn Nghị định 89, do vậy tinh thần chỉ đạo đối với Nghị định 89 có còn hiệu lực không mặc dù vấn đề phát sinh vẫn là như cũ? + Vậy, sau khi Nghị định 43 có hiệu lực, Cơ quan Hải quan có kiểm tra việc dán nhãn trên hàng hóa khi nhập khẩu (bao gồm cả nhãn gốc và nhãn phụ)?. + Nếu có kiểm tra, trường hợp nhãn gốc không thể hiện đầy đủ nội dung theo quy định tại Nghị định 89/2006/NĐ-CP, cơ quan hải quan có xử phạt? + Theo qui định tại Nghị định 45/2016/NĐ-CP sửa đổi bổ sung Nghị định 127/2013/NĐ-CP, mục 11 sửa đổi bổ sung Điều 14: Khoản 7 Điều này : xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa không có "nhãn hàng hóa theo quy định pháp luật" thì bị xử phạt. Có nghĩa là hàng Nhập khẩu phải có Nhãn với hình thức và nội dung đầy đủ bằng tiếng Việt theo như quy định tại Nghị định 43, nếu không sẽ vi phạm điều này? Mong quý Hải quan giải đáp những thắc mắc trên để Doanh nghiệp chúng tôi được hướng dẫn thực hiện đúng quy định của PL. Trân trọng cảm ơn.

Trả lời tư vấn

(30/10/2018 3:30 CH )

  • Tổ tư vấn Pháp luật Báo Hải quan
  • Câu hỏi của bạn đọc liên quan thuộc phạm vi chức năng, thẩm quyền xử lý của nhiều bộ, ngành. Đề nghị bạn đọc có văn bản gửi cơ quan có thẩm quyền để được trả lời cụ thể được câu hỏi.